Sử dụng tinh dầu giàu 1,8-cineole trong y học cổ truyền

Tinh dầu tràm cajuput được phân loại là không độc hại (LD50 ở chuột là 2–5g/kg, Tisserand and Balacs 1995) và không kích ứng, mặc dù kích thích da nhẹ có thể xảy ra ở nồng độ cao (Lawless 1995).

Trong y học cổ truyền ở Việt Nam tinh dầu tràm cajuput thường được dùng nguyên chất để xoa bóp chữa đau nhức, tê thấp, ho, cảm (Đỗ Tất Lợi, 1995), cũng như chữa đau bụng, co thắt dạ dày, làm thuốc bôi chống viêm, chữa vết bỏng, xoa bóp trị đau nhức khớp xương và thần kinh (Võ Văn Chi, 1997). Dung dịch 5-10% hay 20% còn được dùng để nhỏ mũi, chống cúm, ngạt mũi hoặc pha với nước ở nồng độ 0,2% để rửa vết thương (Đỗ Tất Lợi, 1995).

Trong y học cố truyền ở nước ngoài tinh dầu tràm cajuput cũng được dùng làm chất khử trùng để điều trị vết thương, điều trị triệu chứng của bỏng, viêm da, dị ứng, viêm đại tràng, ho và cảm lạnh, viêm nướu răng, chốc lở, viêm mũi họng, bệnh vẩy nến, xoang, viêm miệng và viêm amiđan (Altman et al., 1989; Apted et al., 1991; Bhushan et al., 1997; De Groot et al., 1996; Deutscher Arzneimittel-Codex 1996; Knight et al., 1994; Osborne et al., 1998; Selvaag et al.,1994; Van der Valk et al., 1994).

Lassak và McCarthy 1983 mô tả việc sử dụng tinh dầu tràm để chữa bệnh: Tinh dầu được dùng trong để điều trị ho và cảm lạnh, chống co thắt dạ dày, đau bụng và bệnh hen suyễn, liều dùng là 1-5 giọt. Nó được sử dụng bên ngoài để giảm đau dây thần kinh và bệnh thấp khớp, thường ở dạng thuốc mỡ. Một vài giọt nhỏ vào bông gòn để làm giảm đau răng, đau tai. Dầu có tác dụng an thần, hữu ích trong điều trị giun, đặc biệt là giun đũa, và nhiễm trùng bộ phận sinh dục.

Sử dụng tinh dầu tràm trong y học cổ truyền

(Tinh dầu tràm đã được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền)

Ngoài ra nó còn được sử dụng như như một hương liệu trong nấu ăn, xà phòng, mỹ phẩm, chất tẩy rửa và nước hoa (Sellar, 1992; Lawless, 1995). Các thành phần kháng khuẩn của dầu tràm đã được xác định là bao gồm cả 1,8-cineole, (-)-Linalool, (-)-terpinen-4-ol, (±)-α-tecpineol (Nguyễn Duy Cường et al, 1994) và 3,5 - dimethyl-4 ,6-di-O-methylphloroacetophenone (hoặc cajeput oil) (Lowry, 1973). Việc sử dụng các hợp chất platyphyllol trong kem chống nắng, thuốc sát trùng và thuốc diệt nấm đã được cấp bằng sáng chế (Joulain và Racine, 1994).

Tinh dầu Tràm năm gân có tác dụng khử trùng. Niaouli là dầu được chiết xuất từ Tràm năm gân chủ yếu được sử dụng để điều trị nhiễm trùng phổi đặc biệt là đối với bệnh cảm lạnh và viêm phế quản.

Dầu có thể được sử dụng dưới dạng trà (lá khô sắc với nước), hoặc xông với hơi nước Niaouli có khả năng thâm nhập cao khuếch tán tạo ra hiệu quả ngừa và chống lại nhiễm trùng tiềm ẩn. Mặt khác, theo Degrez (1908), aldehyde trong dầu Niaouli, được gọi là "Gomenol", có hương vị thơm lạnh có độc tính thấp bởi iều gây chết người được báo cáo đối dầu tinh khiết Niaouli lỏng là 0,17 g/kg thể trọng so với collargol (keo bạc), phenol, formol (formaldehyde) là 0,34, 0,51, 0,79 g/kg thể trọng.

Tinh dầu tràm đã được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền, trên đây là nghiên cứu khoa học được đăng tải trên tạp chí dược liệu (Journal Of Medicinal Materials - Hanoi) ISSN 1859-4735 của G.s Lê Đình Khả.

(Trích Tạp chí dược liệu - Gs Lê Đình Khả)

Bài viết liên quan